Các ngân hàng đầu tư đang cố gắng cắt bỏ "lượng mỡ thừa" mà không ảnh hưởng đến các cơ.
Rõ ràng là, một vài vấn đề (như lương thưởng của nhân viên ngân hàng) đang chọc giận công chúng và các chính trị gia.
Trong quá khứ, dường như ngân hàng đầu tư vốn là ngành được cho là chỉ phục vụ lợi ích của người lao động trong ngành hơn là lợi ích của các cổ đông hoặc khách hàng. Tuy nhiên, mọi thứ đang thay đổi. Các luật lệ mới ở châu Âu sẽ giới hạn mức thưởng dành cho các nhân viên ngân hàng, phản ánh sự bất bình của xã hội. Những cổ đông cộc cằn thô lỗ cũng hào hứng trước những thay đổi buộc các ngân hàng phải tập trung vào lợi nhuận hơn là doanh thu.
Nhiều lãnh đạo cấp cao của hầu hết các ngân hàng đầu tư hàng đầu sẽ đồng ý rằng trong những năm ngành này bùng nổ, thứ duy nhất tồn tại trong mắt họ chính là các mục tiêu doanh số chứ không phải là lợi nhuận hay tỷ lệ ROE. Anthony Salz, một luật sư được giao trọng trách nghiên cứu về văn hóa kinh doanh của Barclays, đã phát hiện ra rằng lương thưởng ở các ngân hàng này chỉ phụ thuộc vào doanh số chứ. Họ bỏ qua hầu hết các nhân tố khác.
Nói một cách công bằng, hầu hết các ngân hàng lớn đều làm điều tương tự như Barclays. Các nhà quản lý có đặc quyền làm như vậy. Với lợi nhuận tăng lên trong những năm trước khủng hoảng, các cổ đông của ngân hàng nhận ra rằng sở hữu cổ phiếu cũng như mua những tấm vé số. Họ không có chút quyền lực nào. Cho phép các ngân hàng mở rộng qui mô cũng như hoạt động càng nhanh càng tốt sẽ là cách tốt nhất để có được lợi nhuận cao trong tương lai.
Tuy nhiên, kể từ khi khủng hoảng xảy ra, các ngân hàng buộc phải bắt đầu tính toán kỹ lưỡng thay vì thực hiện những kế hoạch mạo hiểm trong tương lai. Có thể cảm nhận điều này qua cấu trúc phân bổ chi phí của các ngân hàng. Số lượng nhân viên của ngành ngân hàng cũng như thù lao mà họ nhận được đều đang lao dốc.
Theo dự báo của công ty tư vấn CEBR, trong năm nay, số người làm việc trong ngành tài chính ở London sẽ giảm từ mức đỉnh 354.000 của năm 2007 xuống chỉ còn khoảng 237.000 người - thấp nhất trong vòng 20 năm qua. Ở New York và châu Á, con số cũng đang giảm xuống. Chỉ trong quý I vừa qua, 6 ngân hàng lớn nhất nước Mỹ đã thông báo kế hoạch cắt giảm khoảng 21.000 việc làm (tương đương gần 2% nguồn nhân lực). Các chuyên gia phân tích tại JPMorgan buộc phải thừa nhận rằng các công ty môi giới Mỹ đã phải cắt giảm 10% lực lượng lao động kể từ năm 2008 đến nay.
Mức lương trung bình cũng giảm tới 20% (tính từ khủng hoảng), và rất nhiều người trong ngành cho rằng con số sẽ còn giảm mạnh trong những năm tới. Một báo cáo mới được Morgan Stanley đưa ra ước tính rằng các ngân hàng châu Âu vẫn cần phải cắt giảm khoảng 10 - 25% chi phí. Tỷ lệ là tương tự đối với các ngân hàng Mỹ.
Tuy nhiên, đây chắc chắn không phải là điều dễ dàng. Simon Samuels - chuyên gia đến từ Barclays và là người đã từng nghiên cứu về biến động giữa chi phí và thu nhập của các ngân hàng lớn ở châu Âu - cho rằng các ngân hàng đang quá tham vọng khi hứa hẹn mỗi năm sẽ tăng tỷ lệ chi phí/thu nhập thêm 3,3% trong vòng 3 năm tới. Ông chỉ ra rằng trong 12 năm trước khủng hoảng, tỷ lệ chỉ là 0,6%. Và, kể cả khi các ngân hàng đạt được mục tiêu cắt giảm chi phí, họ không thể đạt được mục tiêu về lợi nhuận.
Ở hầu hết các ngành khác, áp lực chi phí sẽ ngay lập tức tạo ra làn sóng thâu tóm sáp nhập. Tuy nhiên, dường như các nhà quản lý sẽ không cho phép các ngân hàng lớn nhất mua lại những "ông lớn" khác. Các ngân hàng nhỏ muốn đoàn kết với nhau cũng sẽ bị ảnh hưởng: theo chuẩn Basel 3, qui mô càng lớn, các ngân hàng càng phải đối mặt với những qui định khắt khe hơn về vốn.
Câu trả lời
Marty Chavez - trưởng bộ phận nguồn vốn tại Goldman Sachs - cho rằng trước khủng hoảng tài chính, mỗi ngân hàng và đối tác sẽ tự thảo luận về các điều khoản pháp lý điều chỉnh các hợp đồng phái sinh. Tuy nhiên, khi khủng hoảng nổ ra và các ngân hàng bắt đầu lo lắng về sức khỏe của đối tác, họ phải nhờ cậy đến sự tư vấn của đội ngũ luật sư với hàng mớ luật lệ. Giờ đây, các ngân hàng đang tiến tới chuẩn hóa các điều khoản. Điều này không chỉ giúp giảm bớt chi phí luật pháp mà còn cho phép họ chấp nhận nhiều rủi ro hơn.
Những điều khoản được chuẩn hóa sẽ có vai trò như một cuộc cách mạng trong ngành tài chính, giống như việc chuẩn hóa các loại sắt thép, cao su và bu - lông trong thời kỳ cách mạng công nghiệp của những năm giữa thế kỷ 19. Lợi ích đối với các ngân hàng là họ có thể thuê ngoài (outsource) một số hoạt động kinh doanh. BCG thừa nhận rằng do các doanh nghiệp có được lợi thế về phạm vi thị trường (ví dụ như trên thị trường ngoại hối), chi phí của mỗi lần giao dịch giảm khoảng 1/3. Với các công nghệ mới - như điện toán đám mây - chi phí có thể giảm mạnh hơn nữa. Steve Vinnicombe (chuyên gia đến từ hãng tư vấn công nghệ Capco) cho rằng các ngân hàng có thể tiết kiệm 40 - 60% chi phí bằng cách áp dụng cơ sở hạ tầng đồng bộ hoặc chuyển hẳn sang hệ thống công nghệ thông tin hoàn toàn mới.
Morgan Stanley tin rằng bằng các biện pháp trên, các ngân hàng có thể tiết kiệm khoảng 3 tỷ USD mỗi năm và tăng chỉ số ROE lên khoảng 0,5%. Tuy nhiên, cho đến khi điều này xảy ra, những ngân hàng đầu tư lớn nhất với thị phần lớn nhất vẫn sẽ là bộ phận được hưởng lợi nhiều nhất.
Thu Hương
Theo Trí Thức Trẻ/Economist








